Slide 1
Slide 2

Dịch vụ báo cáo thuế

Slide 3 Slide 4 Slide 5

     Thực hiện Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực  cạnh tranh quốc gia, ngày 25/8/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 119/2014/TT-BTC nhằm đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, giúp doanh nghiệp và Người nộp thuế thuận lợi hơn trong việc kê khai làm thủ tục về thuế. 


ke-khai-thue
Thủ Tục Kê Khai Nộp Thuế Mới
       Phấn đấu giảm dần thời gian kê khai nộp thuế xuống mức ngang bằng các nước trong khu vực; Theo đó, một số nội dung mới được sửa đổi, bổ sung như sau:

      Thứ nhất. Ban hành mới mẫu Tờ khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) dành cho người nộp thuế (NNT) khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (mẫu số 01/GTGT) thay thế cho mẫu Tờ khai thuế GTGT dành cho NNT khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (mẫu số 01/GTGT) ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính. Theo mẫu 01/GTGT mới sẽ giảm bớt một số chỉ tiêu hoặc sửa tên chỉ tiêu như: chỉ tiêu số [40b] trên Tờ khai thuế GTGT dành cho người nộp thuế khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (mẫu số 01/GTGT) thành “Thuế GTGT mua vào của dự án đầu tư được bù trừ với thuế GTGT còn phải nộp của hoạt động sản xuất kinh doanh cùng kỳ tính thuế”; Thay mẫu số 01-1/GTGT- Bảng kê hóa đơn, chứng từ của hàng hóa, dịch vụ bán ra; Theo đó,bỏ các cột “Ký hiệu mẫu hóa đơn”, “Ký hiệu hóa đơn”, “Mặt hàng”; bỏ dòng “Hàng hóa, dịch vụ không phải tổng hợp trên tờ khai 01/GTGT”; Thay mẫu 01-2/GTGT - Bảng kê hóa đơn, chứng từ của hàng hóa, dịch vụ mua ; Theo đó, bỏ các cột “Ký hiệu mẫu hóa đơn”, “Ký hiệu hóa đơn”, “Mặt hàng”, “Thuế suất (%)”; bỏ dòng “Hàng hóa, dịch vụ không đủ điều kiện khấu trừ”, “Hàng hóa, dịch vụ không phải tổng hợp trên tờ khai 01/GTGT”; Thay mẫu số 03/GTGT- Tờ khai thuế GTGT dành cho người nộp thuế mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý; Theo đó, sửa tên chỉ tiêu [27] thành “Thuế GTGT phải nộp: [27]=[26] x thuế suất thuế GTGT”; Thay thế mẫu số 04-1/GTGT- Bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ bán ra; theo đó, bỏ các cột “Ký hiệu mẫu hóa đơn”, “Ký hiệu hóa đơn”, “Mặt hàng”. Thay thế mẫu số 01-1/LPTB- Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất; Theo đó, bổ sung thời hạn nộp tiền chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo; Thay thế mẫu số 11/KK-TNCN-Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (TNCN) dành cho cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ nhận thừa kế và nhận quà tặng là bất động sản.

     Mặt khác, bãi bỏ một số mẫu biểu, bảng kê sau:  Bảng kê hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% (mẫu số 01-3/GTGT); Bảng kê phân bổ số thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ mua vào được khấu trừ trong kỳ (mẫu số 01-4A/GTGT); Bảng kê khai điều chỉnh thuế GTGT đầu vào phân bổ được khấu trừ năm (mẫu số 01-4B/GTGT); Bảng kê số lượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy bán ra (mẫu số 01-7/GTGT). Bãi bỏ các hướng dẫn về khai dòng 5 trên Bảng kê 01-1/GTGT và Bảng kê 01-2/GTGT; Không phải kê khai theo từng hóa đơn đối với “hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT”.

     Về khai, nộp thuế TNCN, đối với cá nhân nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán và phần vốn góp của nhiều Công ty tại các địa bàn khác nhau; Theo đó,  cá nhân đồng thời nhận thừa kế, quà tặng của nhiều loại chứng khoán, phần vốn góp thì nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục thuế nơi cá nhân cư trú. Đối với hộ, cá nhân có tài sản cho thuê mà tổng số tiền cho thuê trong năm thu được từ một trăm triệu đồng trở xuống hoặc tổng số tiền cho thuê trung bình một tháng trong năm từ 8,4 triệu đồng trở xuống thì không phải khai, nộp thuế GTGT, thuế TNCN và cơ quan thuế không thực hiện cấp hóa đơn lẻ đối với trường hợp này.

    Thứ hai. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính về thuế GTGT. Theo đó, Bổ sung hướng dẫn về việc cơ quan Hải quan không thu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu trong trường hợp nhập khẩu hàng hóa đã xuất khẩu nhưng bị phía nước ngoài trả lại. Sửa đổi, bổ sung về giá tính thuế GTGT đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ, cụ thể: Hàng hóa luân chuyển nội bộ  như  hàng hoá được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm, để tiếp tục quá trình sản xuất trong một cơ sở sản xuất, kinh doanh hoặc hàng hoá, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh thì không phải tính, nộp thuế GTGT. Trường hợp cơ sở kinh doanh tự sản xuất, xây dựng tài sản cố định (tài sản cố định tự làm) để phục vụ sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT thì khi hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao, cơ sở kinh doanh không phải lập hoá đơn. Thuế GTGT đầu vào hình thành nên tài sản cố định tự làm được kê khai, khấu trừ theo quy định.      Trường hợp xuất máy móc, thiết bị, khuôn mẫu dưới hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả, nếu có hợp đồng và các chứng từ liên quan đến giao dịch phù hợp, cơ sở kinh doanh không phải lập hóa đơn, tính, nộp thuế GTGT.

     Sửa đổi, bổ sung về đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT như sau:


    Đối với doanh nghiệp, HTX mới thành lập có dự án đầu tư theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thuộc trường hợp đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế. Doanh nghiệp, HTX mới thành lập có dự án đầu tư không thuộc đối tượng được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về đầu tư nhưng có phương án đầu tư được người có thẩm quyền của doanh nghiệp ra quyết định đầu tư phê duyệt thuộc đối tượng đăng ký áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

    Bỏ mức khống chế 1 tỷ đồng về TSCĐ, máy móc, thiết bị… đầu tư, mua sắm của doanh nghiệp, HTX mới thành lập để đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế; Bỏ điều kiện hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong điều kiện hồ sơ, thủ tục hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (Cơ sở kinh doanh sử dụng ngay hóa đơn thương mại trong hồ sơ hải quan).

    Thứ ba. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Thông tư số 39/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Theo đó, bổ sung hướng dẫn về thay thế liên 1 hóa đơn bằng Bảng kê đối với một số ngành, lĩnh vực; Bỏ hướng dẫn doanh nghiệp mới thành lập phải báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn theo tháng .

   Thứ tư. Sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 về Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Theo đó,        bổ sung hướng dẫn đối với trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có hóa đơn in trực tiếp từ máy tính tiền theo quy định của pháp luật về hóa đơn; hóa đơn này nếu có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì doanh nghiệp căn cứ vào hóa đơn này và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt của doanh nghiệp để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có hóa đơn in trực tiếp từ máy tính tiền theo quy định của pháp luật về hóa đơn; hóa đơn này nếu có giá trị dưới 20 triệu đồng và có thanh toán bằng tiền mặt thì doanh nghiệp căn cứ vào hóa đơn này và chứng từ thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp để tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

    Sửa đổi, bổ sung hướng dẫn về ưu đãi thuế TNDN đối với dự án có quy mô lớn, theo đó sửa đổi tiêu chí về dự án quy mô lớn phù hợp với quy định của Luật Thuế TNDN và Nghị định số 218/2013/NĐ-CP.  

     Việc cắt giảm các thủ tục hành chính về kê khai nộp thuế nêu trên được thực hiện từ ngày 01/9/2014. Nếu doanh nghiệp và NNT thực hiện tốt các quy định mới nêu trên sẽ góp phần đáng kể trong việc rút ngắn thời gian kê khai nộp thuế theo đúng lộ trình mà ngành Thuế đã cam kết với Chính phủ./.

Theo
MH
TCT
Read more...

    Trong những năm gần đây, hỗ trợ pháp lý cho DN được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của các đơn vị thuộc Bộ Tài chính. Hàng năm, Bộ Tài chính đều ban hành Kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho DN với các nội dung trọng tâm cần hỗ trợ và xác định hình thức hỗ trợ phù hợp.

hoan-thien-he-thong-thong-tin-phap-luat
Hoàn thiện hệ thống thông tin pháp luật

    Trong thời gian qua, Bộ Tài chính đã tập trung triển khai hỗ trợ cho DN đối với các nội dung liên quan đến Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thuế GTGT, thuế TNDN, Luật Giá…Đồng thời, chỉ đạo các Tổng cục tổ chức theo hệ thống ngành dọc thực hiện lồng ghép nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý vào kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật, tuyên truyền, cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế để thực hiện hiệu quả công tác này.

   Hàng năm, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế đã phối hợp với Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị đối thoại DN, để giải đáp những vướng mắc của DN trong quá trình thực hiện VBQPPL thuế, hải quan.

    Ngoài ra, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo trong toàn ngành đẩy mạnh công tác  hỗ trợ người nộp thuế trong thực hiện VBQPPL và thủ tục hành chính. Một số cơ quan thuế, hải quan đóng tại địa phương đã thực hiện tốt việc cung cấp thông tin pháp luật và hỗ trợ cho người dân và DN thực hiện tốt các quy định của pháp luật và thủ tục hành chính trong tuần lễ ”Lắng nghe ý kiến người nộp thuế”: cung cấp thông tin cho người khai hải quan, người nộp thuế...
  
   Ông Đặng Công Khôi, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho biết: Trong lĩnh vực tài chính, việc lựa chọn lĩnh vực, nội dung trọng tâm hỗ trợ pháp lý cho DN được thực hiện theo nguyên tắc: Các văn bản pháp luật tài chính mới ban hành trong năm, có nội dung liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN; Các VBQPPL dự kiến ban hành trong năm; Các VBQPPL tài chính cần tiếp tục thực hiện hỗ trợ pháp lý cho DN, căn cứ quan trọng là các chương trình xây dựng VBQPPL tài chính và kết quả triển khai thực hiện các chương trình.

    Các DN có thể dễ dàng tra cứu các VBQPPL và tham khảo các thông tin kinh tế qua hệ thống Website của Bộ Tài chính và các tạp chí chuyên ngành. Đây cũng là một trong những hoạt động được đánh giá là khá hiệu quả trong triển khai hỗ trợ pháp lý cho DN của Bộ Tài chính.     

    Theo đó, nội dung trọng tâm hỗ trợ pháp lý cho DN năm 2014 là các VBQPPL như: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN, thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thi hành; Các Nghị định liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài chính, Luật Giá, Luật kinh doanh bảo hiểm; Các văn bản hướng dẫn về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn cộng đồng doanh nghiệp về Hệ thống thông quan tự động (gọi tắt là Hệ thống VNACCS/VCIS)…

 Cần hoàn thiện hệ thống thông tin pháp luật về tài chính

    Tuy nhiên, nhiều DN cho biết, mặc dù các VBQPPL tương đối đầy đủ, nhưng để có thể hiểu, nắm bắt được các quy định của pháp luật nhất là trong một số lĩnh vực mang tính chuyên ngành cao như chứng khoán, bảo hiểm... để triển khai hiệu quả các quy định của pháp luật vẫn là khó khăn đối với DN.

    Ông Đặng Công Khôi cho rằng: Để hỗ trợ DN có hiệu quả, trước hết cần hoàn thiện hệ thống thông tin pháp luật về tài chính tạo điều kiện cho DN nắm bắt kịp thời và tuân thủ pháp luật một cách đầy đủ, qua đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người quản lý DN. Đây có thể coi là một trong những hoạt động cấp thiết hiện nay.

   Bên cạnh đó, cần đề cao trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong tổ chức triển khai nhiệm vụ hỗ trợ pháp lý cho DN; xác định hỗ trợ pháp lý cho DN là nhiệm vụ thường xuyên của đơn vị, từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để thực hiện.

    Thực hiện lồng ghép hoạt động hỗ trợ pháp lý cho DN với các hoạt động chuyên môn khác như hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; tuyên truyền cung cấp thông tin cho người nộp thuế, người khai hải quan; các hoạt động phối hợp với VCCI, các hiệp hội ngành nghề. Đặc biệt, trong các dịp triển khai ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày Pháp luật Tài chính, tháng/ tuần lễ đối thoại với người nộp thuế, người khai hải quan đang thực hiện có hiệu quả thời gian qua. Thiết thực xây dựng cơ chế tiếp nhận các đề xuất kiến nghị, nắm bắt yêu cầu để xác định nội dung, đối tượng, trên cơ sở đó lựa chọn hình thức thực hiện hỗ trợ pháp lý cho DN hiệu quả.

Thảo Miên

Thoibaotaichinhvietnam.vn
Read more...

     Dự án Luật sửa đổi các luật thuế gồm 17 điểm chính, trong đó có: bỏ mức khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị; ưu đãi thuế TNDN cho các DN thuộc lĩnh vực ưu tiên, dự án trên 12.000 tỷ đồng; xoá nợ tiền phạt chậm nộp thuế; nhiều quy định cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan...

luat-thue
Luật Thuế
       Nhiều chính sách thuế được sửa đổi sẽ tháo gỡ khó khăn trước mắt cho doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo nguồn thu dài hạn cho ngân sách.
Chiều 8/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Chính phủ, đã trình bày tờ trình về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều tại các luật thuế, tại Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH).

 Bỏ mức khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị

    Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), Chính phủ đề nghị ưu đãi thuế TNDN 20% vào năm 2014, 2015, và 17% từ năm 2016 đối với DN đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Ưu đãi thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% thuế trong 9 năm tiếp theo đối với DN công nghiệp hỗ trợ và dự án đầu tư quy mô từ 12.000 tỷ đồng trở lên. Để khuyến khích DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài có thu nhập chuyển về nước, Chính phủ đề xuất không thu thuế TNDN đối với phần thu nhập này.

    Một quy định rất được quan tâm trong lần sửa đổi này là mức khống chế chi quảng cáo, tiếp thị. Chính phủ đề xuất hai phương án, một là bỏ mức khống chế với các khoản chi này và hai là chỉ khống chế 15% với chi phí quảng cáo và không khống chế các chi phí tiếp thị, môi giới…

    Với thuế thu nhập cá nhân (TNCN), Chính phủ đề nghị cho miễn TNCN với thuyền viên, chủ tàu, với cá nhân có thu nhập trúng thưởng trong casino. Đồng thời, cho phép cá nhân chuyển nhượng bất động sản được lựa chọn tính thuế 25% trên thu nhập hoặc 2% trên giá bán và cá nhân chuyển nhượng chứng khoán được lựa chọn tính thuế 20% trên thu nhập năm hoặc nộp thuế 0,1% trên giá bán chứng khoán từng lần chuyển nhượng.

   Về thuế GTGT, mặt hàng phân bón, thức ăn chăn nuôi công nghiệp được đề nghị không chịu thuế GTGT, thay vì mức 5% hiện nay. Hàng hoá để tạo tài sản cố định của dự án sản xuất phân bón, thức ăn chăn nuôi và xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và tàu đóng mới, hoặc nâng cấp để khai thác thủy sản xa bờ được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào.

 Nhiều quy định cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan

     Đặc biệt, để cải cách thủ tục hành chính thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, Chính phủ trình Quốc hội cho thực hiện bỏ Bảng kê hóa đơn hàng hóa mua vào, bán ra trong Hồ sơ khai thuế; cho phép quy đổi tỷ giá tính thuế và nộp ngân sách theo tỷ giá giao dịch thực tế tại thời điểm phát sinh; quy định cụ thể việc người nộp thuế không phải nộp các chứng từ trong hồ sơ khai, nộp thuế, hồ sơ hoàn thuế và các hồ sơ thuế khác mà cơ quan quản lý nhà nước đã có…

    Đồng thời, tháo gỡ khó khăn cho các DN, Chính phủ đề nghị xoá nợ tiền phạt chậm nộp thuế, tiền chậm nộp thuế của các khoản nợ thuế phát sinh trước ngày 1/7/2013 của DN gặp khó khăn khách quan (đối tác phá sản, lãi suất cao…) và đã nộp khoản nợ thuế gốc trước ngày 31/12/2014.

    Chính phủ cũng đề nghị bỏ quy định thu thuế môn bài, không thu thuế tài nguyên đối với nước thiên nhiên dùng cho nông, lâm, ngư nghiệp.

 Giảm thu ngắn hạn, tăng thu trung và dài hạn

     Theo tính toán của Chính phủ, khi thực hiện dự án Luật nêu trên, ước tính tổng số thuế hỗ trợ cá nhân, DN năm 2015 khoảng 5.600 - 5.700 tỷ đồng và mỗi năm tăng chi khoảng 1.300 tỷ đồng từ Quỹ hoàn thuế để thực hiện hoàn thuế GTGT. Tuy nhiên, việc giảm thu này chỉ xảy ra trong những năm đầu và sẽ tăng trong trung và dài hạn.

     Mặt khác, nguồn thu sẽ được bù đắp bằng việc điều chỉnh thuế tiêu thụ đặc biệt với thuốc lá, rượu, bia, kinh doanh casino, trò chơi trực tuyến. Theo ước tính, năm 2015 tăng thêm khoảng 896 tỷ đồng, năm 2016 tăng thêm khoảng 3.598 tỷ đồng, năm 2017 tăng thêm khoảng 5.341 tỷ đồng, năm 2018 tăng thêm khoảng 7.525 tỷ đồng, năm 2019 tăng thêm khoảng 10.566 tỷ đồng. Do đó, với các nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển từ đó tăng nguồn thu ngân sách.

     Để bù đắp được các tác động đến thu NSNN cũng như đảm bảo sự chủ động trong điều hành dự toán NSNN, năm 2015 Chính phủ sẽ chỉ đạo thực hiện và triển khai hiệu quả các Luật thuế mới, tăng cường kiểm tra chống thất thu thuế và chống chuyển giá; tăng cường quản lý giá đối với sản phẩm vật tư nông nghiệp, thức ăn chăn nuôi và tổ chức thực hiện thu đối với tiền cấp quyền khai thác khoáng sản theo quy định của “Luật khoáng sản”, nhất là đối với những mỏ đã và đang hoạt động (khoảng 1.300 tỷ đồng/năm). Đồng thời sẽ điều chỉnh giá bán khí theo giá thị trường để đảm bảo lợi ích của Nhà nước.

    Đánh giá tại phiên thảo luận, các thành viên UBTVQH nhất trí với hầu hết các đề nghị của Chính phủ. Đối với một vài vấn đề cần làm rõ hơn, UBTVQH đề nghị Chính phủ hoàn thiện và bổ sung vào tờ trình để trình Quốc hội vào ngày 27/10 tới./.

Hoàng Yến

Thoibaotaichinhvietnam.vn
Read more...

        Có hiệu lực từ ngày 15/12, Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thu hút sự quan tâm của dư luận.

xu-phat-hanh-chinh-thue-moi
Xử phạt hành chính thuế mới
      Nghị định số 129/2013/NĐ-CP đã có nhiều điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo đồng bộ với hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Luật Quản lý thuế (sửa đổi) và hệ thống pháp luật Việt Nam. Đồng thời, giải quyết những tồn tại, hạn chế bất cập của các quy định về xử phạt vi phạm hành chính về thuế hiện hành còn vướng mắc.

 Thay đổi nhiều mức phạt vi phạm hành chính về thuế

      Điểm đáng chú ý của Nghị định 129/2013/NĐ-CP là phân biệt mức phạt tiền giữa tổ chức và cá nhân có hành vi vi phạm thủ tục thuế và hành vi trốn thuế (mức phạt tiền đối với người nộp thuế là cá nhân, hộ gia đình bằng ½ mức phạt tiền đối với tổ chức). Điều chỉnh này sẽ khắc phục được một phần bất hợp lý về mức phạt tiền đối với cá nhân không quá cao so với số tiền thuế mà cá nhân phải nộp như thuế thu nhập cá nhân, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.

     Áp dụng thống nhất một mức phạt tiền 20% đối với cá nhân, tổ chức có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn.

     Nếu như trước đây, mức phạt tối đa của khung phạt tiền gấp 10 lần mức phạt tối thiểu thì tại Nghị định số 129/2013/NĐ-CP khoảng cách chênh lệch giữa mức tối đa và mức tối thiểu của khung phạt tiền chỉ còn 2,5 lần, tránh áp dụng tùy tiện.

     Đối với hành vi chậm nộp tiền thuế không xử phạt hành chính mà chuyển sang áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là nộp tiền chậm nộp tiền thuế theo tỷ lệ là 0,05% hoặc 0,07% 1 ngày trên số tiền chậm nộp thuế.

     Điềm mới đáng lưu ý nữa là quy định về thời hạn truy thu. Theo đó, người nộp thuế có hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, tăng số thuế được hoàn, tăng số tiền thuế được miễn giảm, hành vi trốn thuế thì thời hạn truy thu các khoản thuế bị truy thu, truy hoàn, trốn thuế, tiền chậm nộp thuế hoàn là 10 năm, trừ các trường  hợp người  nộp thuế không đăng ký thuế và trốn thuế thì thời hạn truy thu thuế không khống chế. Trước đây không khống chế thời hạn truy thu.

     Nghị định số 129/2013/NĐ-CP đã có nhiều điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế. Ảnh: T.L
Về hình thức xử phạt, hình thức phạt cảnh cáo áp dụng đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo.

     Nghị định số 129/2013/NĐ-CP cũng đã bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

     Trường hợp khai sai người nộp thuế đã khai bổ sung hồ sơ khai thuế và đã nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước thời điểm cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại trụ sở người nộp thuế thì sẽ không bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

     Nghị định cũng không quy định xử phạt đối với hành vi vi phạm chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá vận chuyển trên đường, bởi việc xử phạt vi phạm hành vi này theo quy định riêng của Chính phủ.

     Cũng theo Nghị định này, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế có quyền đề nghị miễn, giảm tiền phạt vi phạm hành chính về thuế mà số tiền phạt từ 3 triệu đồng trở lên trong trường hợp gặp khó khăn đặc biệt, đột xuất về kinh tế do thiên tai, hỏa hoạn, thảm họa, tai nạn, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo.

    Mức miễn, giảm tiền phạt tối đa bằng số tiền phạt còn lại trong quyết định xử phạt và không quá giá trị tài sản, hàng hóa bị thiệt hại, chi phí chữa bệnh.

 Phân biệt thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân và tổ chức

      Nghị định số 129/2013/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính, phân biệt thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân và tổ chức theo nguyên tắc thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân bằng ½ thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, khống chế thẩm quyền xử phạt theo số tiền tuyệt đối.

      Còn, thẩm quyền xử phạt đối với tổ chức, cá nhân có hành vi trốn thuế, hành vi khai thiếu thuế, hành vi không trích chuyển từ tài khoản của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan thuế thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế (không khống chế theo số tiền tuyệt đối), cụ thể đối với tổ chức:

      Công chức thuế có quyền xử phạt phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 1 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính về thuế.

      Đối trưởng Đội thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 5 triệu đồng đối với vi phạm thủ tục thuế;

      Chi cục trưởng Chi cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 50 triệu đồng; Cục trưởng Cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 140 triệu đồng; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến 200 triệu đồng đối với vi phạm thủ tục thuế; phạt tiền đối với hành vi quy định tại Điều 10, 11, 12 Nghị định (hành vi khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, hành vi trốn thuế, gian lận thuế, hành vi vi phạm của ngân hàng...); áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

     Đối với cá nhân các mức phạt nêu trên giảm bằng ½.

      Linh hoạt áp dụng biện pháp cưỡng chế

       Nội dung quy định về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tại Nghị định được căn cứ trên cơ sở Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật quản lý thuế (sửa đổi) trong đó có những quy định mới đáng lưu ý, như thay đổi thứ tự biện pháp, bỏ một số biện pháp cưỡng chế…

       Chẳng hạn, thay đổi thứ tự biện pháp cưỡng chế: biện pháp cưỡng chế thông báo hoá đơn không còn giá trị sử dụng là biện pháp cưỡng chế thứ ba áp dụng sau biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập.

       Biện pháp cưỡng chế thông báo hoá đơn không còn giá trị sử dụng được áp dụng để thay thế cho biện pháp cưỡng chế thu hồi mã số thuế; đình chỉ việc sử dụng hoá đơn trước đây.

        Bỏ biện pháp cưỡng chế tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.

        Và trong thời gian được nộp dần tiền nợ thuế, tiền phạt thì chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế.

        Trường hợp người nộp thuế nợ tiền thuế, tiền chậm nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền phạt có hành vi bỏ trốn, tẩu tán tài sản thì tùy tình hình để linh hoạt áp dụng biện pháp cưỡng chế.

       Nghị định cũng quy định, trong trường hợp cần thiết phải phong toả tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế phải ghi rõ phong toả một phần hoặc toàn bộ số tiền trên tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế (khi áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản) tại Điều 27.

      Về định giá tài sản kê biên theo Điều 43, nếu tài sản kê biên có giá trị dưới 1 triệu đồng nếu các bên không có thoả thuận thì người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế có trách nhiệm định giá.

      Trường hợp tài sản kê biên trị giá từ 1 triệu đồng trở lên thuộc loại khó định giá thì người có ra quyết định cưỡng chế đề nghị cơ quan có thẩm quyền thành lập hội đồng định giá.

       Nghị định số 129/2013/NĐ-CP được ban hành là một bước nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính; đảm bảo tính công khai, minh bạch, thống nhất, công bằng trong áp dụng pháp luật. Nghị định cũng góp phần tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý hành chính thuế nhằm chống thất thu, giảm nợ thuế, thu đúng, đủ, kịp thời tiền thuế vào Ngân sách Nhà nước./.

Theo  VGP


Phạm Thanh Tùng, 
Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Tổng cục Thuế
Read more...

    Ngày 1/10, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định về thuế. Nghị định đã có những điều chỉnh quan trọng so với các nghị định về thuế trước đó.

dieu-chinh-nghi-dinh-thue
Điều chỉnh nghị định thuế

Những nội dung đã được thay đổi, bổ sung của Nghị định như sau:

 1 - Bổ sung quy định không tính thuế TNDN đối với chênh lệch do đánh giá lại tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa (khoản 1 Điều 1 NĐ 91).

2 - Sửa đổi thời gian miễn thuế từ 01 năm lên không quá 03 năm đối với thu nhập từ thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng VN theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ, được miễn thuế từ 01 năm lên tối đa không quá 05 năm kể từ ngày có doanh thu từ bán sản phẩm; thu nhập từ bán sản phẩm sản xuất thử nghiệm trong thời gian sản xuất thử nghiệm theo quy định của pháp luật (K2 Đ1 NĐ 91);

3 - Bổ sung quy định cho phép doanh nghiệp được tính vào chi phí được trừ đối với khoản chi có tính chất phúc lợi (chi đám hiếu, hỷ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con cái của người lao động có thành tích tốt trong học tập;...) chi trực tiếp cho người lao động không quá 01 tháng lương thực tế thực hiện (K4 Đ1  NĐ 91);

4 - Bổ sung quy định cho phép DN được trích khấu hao theo giá trị thực tế đối với ô tô dưới chín chỗ ngồi sử dụng để làm mẫu và lái thử của các cơ sở kinh doanh ô tô (hiện hành chỉ cho trích khấu hao và tích vào chi phí phần nguyên giá dưới 1.6 tỷ) (K5 Đ1 NĐ 91);

5 - Bổ sung quy định Địa bàn có điều kiện - kinh tế xã hội thuận lợi không bao gồm các quận của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 01/01/2009, theo đó, DN có dự án đầu tư tại KCN thuộc các địa bàn này được hưởng ưu đãi theo quy định (K6 Điều 1NĐ 91);

6 - Bổ sung quy định đối với dự án phân kỳ đầu tư và dự án trang bị bổ sung máy móc thường xuyên được hưởng ưu đãi thuế theo mức ưu đãi đang áp dụng đối với dự án đầu tư lần đầu; đối với dự án đầu tư được cấp giấy phép đầu tư trước ngày 01/01/2014 thì ưu đãi thuế được hưởng cho thời gian ưu đãi còn lại được tính từ ngày 01/01/2014 (K7 Đ1 NĐ 91);

7 - Bổ sung quy định chuyển tiếp ưu đãi thuế TNDN đối với doanh nghiệp dệt may đáp ứng tiêu chí xuất khẩu bị ngừng ưu đãi thuế do thực hiện cam kết WTO được lựa chọn để hưởng ưu đãi thuế theo các điều kiện doanh nghiệp đáp ứng (ngoài điều kiện ưu đãi do đáp ứng điều kiện về tỷ lệ xuất khẩu) cho thời gian ưu đãi còn lại theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm được cấp Giấy phép thành lập hoặc tại các văn bản quy phạm pháp luật trước đây về thuế thu nhập doanh nghiệp tại thời điểm điều chỉnh do cam kết WTO (K8 Đ1 NĐ91).

8 - Cập nhật thông tin về một số địa bàn tại Phụ lục Danh mục địa bàn ưu đãi thuế TNDN để phù hợp với thực tế (từ thị xã lên thành thành phố) (K9 Đ1 NĐ 91);

9 - Bổ sung quy định trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào (K2 Đ2 NĐ 91);

10 -  Bổ sung quy định được khấu trừ thuế GTGT theo giá trị thực tế  đối với ô tô dưới chin chỗ ngồi dùng để làm mẫu và lái thử của các cơ sở kinh doanh ô tô (K3 Đ2 NĐ 91).

11 - Bổ sung quy định được trừ khỏi diện thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản lợi ích nhận được là nhà ở do doanh nghiệp xây dựng cho công nhân làm việc trong các khu kinh tế, khu CN (K1 Đ2 NĐ91);

12 - Bổ sung quy định cho phép cá nhân, hộ kinh doanh có thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán không phải quyết toán thuế TNCN (K2 Đ2 NĐ 91);

13 - Bổ sung quy định không phải quyết toán thuế đối với cá nhân là đại lý bảo hiểm, đại lý xổ số, bán hàng đa cấp (K3 Đ2 NĐ91).

14 - Bổ sung quy định trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động kinh doanh đã có văn bản đề nghị gửi cơ quan đăng ký kinh doanh nơi người nộp thuế đã đăng ký thì không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh (K1 Đ4 NĐ 91);

15 - Bổ sung vào diện được áp dụng biện pháp ưu tiên trong quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, bao gồm: doanh nghiệp có qui mô đầu tư lớn, dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ưu tiên được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp phép đầu tư (K2 Đ4 NĐ 91);

16 - Bổ sung quy định về mức doanh thu khai theo quý (thay cho tháng) áp dụng đối với người nộp thuế đáp ứng điều kiện có tổng doanh thu của hàng hóa, dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống (K3 Điều 4);

17 - Bổ sung quy định không thực hiện khai quyết toán thuế TNDN các trường hợp chuyển đổi mà bên tiếp nhận kế thừa toàn bộ nghĩa vụ về thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi (K4 Đ4 NĐ 91);

18 - Quy định doanh nghiệp không phải kê khai thuế TNDN theo quý mà tạm nộp theo quý quyết toán theo năm (K5 Đ4 NĐ 91).



Theo MOF
Read more...

     Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam Nguyễn Thị Cúc cho rằng với Nghị định mới được ban hành về thuế, Nhà nước đã chịu thiệt thòi để nhường phần thuận lợi cho doanh nghiệp.

nghi-dinh-moi-ve-thue
Nghị định mới về thuế
      Bà Cúc nhận xét đây là lần đầu tiên có một nghị định sửa cùng lúc 4 nghị định, là bước đột phá của Chính phủ để cắt giảm thời gian nộp thuế.

      Bà phân tích kỹ hơn một số điểm mới nổi bật nhất trong Nghị định 91/2014/NQ-CP, người nộp thuế được lợi như thế nào và Nghị định có giải pháp gì để hạn chế việc lạm dụng các ưu đãi đó.

 Giảm rất nhiều lần kê khai thuế

      Theo bà Cúc, chuẩn bị thủ tục kê khai thuế lâu nay chính là khâu khiến doanh nghiệp mất thời gian nhất, “khốn khổ” nhất trong thủ tục thuế. Nghị định 91 có nhiều quy định để giảm bớt gánh nặng này.

      Trước hết là quy định trường hợp chưa có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng trả chậm, trả góp thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.

      Bà Cúc cho biết theo các luật thuế, chỉ cần hàng hóa chuyển quyển sở hữu, sử dụng, tức khi hàng được chuyển lên xe người mua đã là thời điểm xác định doanh thu để tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNDN. Tuy nhiên, theo hợp đồng mua bán, trường hợp trả góp trả chậm hiện nay rất phổ biến. Theo quy định trước đây về hướng dẫn luật thuế GTGT, đối với bán hàng trả chậm, trả góp hợp đồng mua bán quy định thanh toán qua ngân hàng và thời hạn trả tiền, thì doanh nghiệp được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nhưng đến hạn thanh toán mà vì lý do nào đó chưa thanh toán được thì phải loại trừ thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ, đến khi doanh nghiệp thanh toán tiền hàng lại cho kê khai thuế đầu vào bổ sung. Doanh nghiệp phải kiểm tra đối soát từng hợp đồng, hoá đơn, theo dõi tiền về hay chưa để loại trừ hoặc bổ sung, rất mất thời gian cho doanh nghiệp.

      Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 219/2013/TT- BTC, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2014. Trước đây doanh nghiệp phải điều chỉnh với thời hạn thanh toán chậm trả của từng hợp đồng, thì với Thông tư này, doanh nghiệp chỉ phải điều chỉnh 1 lần trong cả năm, nhưng vẫn phải kiểm tra, đối chiếu lại tất cả các hợp đồng trả chậm, trả góp chưa thanh toán trong năm để điều chỉnh cuối năm. Thông tư 119/2014/TT- BTC nhằm đơn giản hoá thủ tục thuế cũng chỉ bỏ thêm quy định phải ghi chú trên Bảng kê hóa đơn GTGT đầu vào về thời hạn thanh toán theo hợp đồng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm.

      Với Nghị định 91 thì khác: Trong trường hợp này, đương nhiên doanh nghiệp được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào, không cần phải kê khai bổ sung, điều chỉnh khi đến hạn, hết năm mà chưa thanh toán được tiền như trước kia. Đương nhiên, nếu doanh nghiệp thanh toán bằng tiền mặt thì sẽ bị loại trừ tiền thuế GTGT đã khấu trừ và xử lý theo quy định của luật quản lý thuế. “Quy định này rất phù hợp, doanh nghiệp rất mong đợi”, bà Cúc nói.

     Cùng với đó, Nghị định cho phép các doanh nghiệp có doanh thu không quá 50 tỷ đồng được kê khai thuế GTGT theo quý thay vì kê khai hàng tháng. Trước đây chỉ các doanh nghiệp có doanh thu không quá 20 tỷ đồng mới được khai theo quý.

     Bà Cúc cho biết quy định này không chỉ giúp doanh nghiệp giảm số lần kê khai (từ 12 lần còn 4 lần mỗi năm) mà còn giúp doanh nghiệp được sử dụng số tiền thuế thêm một thời gian nữa, nói nôm na là Nhà nước cho doanh nghiệp vay không lãi suất.

    Cũng liên quan đến kê khai thuế, trước Nghị định 91, doanh nghiệp phải kê khai tạm nộp thuế TNDN theo quý, tờ khai gồm trên 40 tiêu thức phải kê khai, phải tính toán các khoản chi phí, doanh thu… Nghị định mới đã bỏ thủ tục kê khai theo quý, doanh nghiệp căn cứ kết quả sản xuất kinh doanh để tự xác định số TNDN tạm nộp hàng quý.

    Tuy nhiên, để tránh tình trạng doanh nghiệp chiếm dụng vốn, chỉ nộp trước một ít tiền thuế, Nghị định đưa ra một chốt chặn: Nếu doanh nghiệp chỉ tạm nộp 4 quý chiếm tỷ trọng dưới 80% số tiền phải nộp theo quyết toán năm thì phần chênh lệch đó phải chịu lãi chậm nộp.

    “Nhà nước giao anh chủ động, tạo điều kiện cho anh thì anh cũng phải tính toán làm sao để không phụ chính sách của Nhà nước”, bà Cúc phân tích.

Nhân văn

      Trước đây, cộng đồng doanh nghiệp rất băn khoăn khi một số khoản chi phí phát sinh trong thực tế mang tính chất phúc lợi như tiền phúng điếu khi bố mẹ người lao động qua đời, tiền thưởng con người lao động học giỏi… lại không được trừ vào chi phí khi tính thuế TNDN.

     Nghị định 91 đã cho phép doanh nghiệp hạch toán vào chi phí các khoản chi này, mức tối đa là không quá 1 tháng lương/ năm. Bà Cúc đánh giá đây là một quy định mang tính nhân văn.

     Liên quan đến người lao động, về thuế TNCN, Nghị định cho phép được trừ khỏi thu nhập chịu thuế TNCN đối với khoản lợi ích nhận được là nhà ở do doanh nghiệp xây dựng cho công nhân tại các KCN, KKT.

    Hiện nay khi công nhân được ở nhà do doanh nghiệp xây dựng cho thì vẫn phải coi đây như một khoản thu nhập chịu thuế. Bà Cúc cho rằng quy định mới không chỉ có lợi cho người nộp thuế mà doanh nghiệp cũng không phải mất công sức để tính toán cụ thể mỗi công nhân được thêm bao nhiêu “thu nhập” từ khoản này.

 Hài hòa và công bằng hơn

     Nghị địnhc ó nhiều quy định mới về ưu đãi thuế theo hướng hài hòa, công bằng hơn cho các đối tượng doanh nghiệp.

     Theo các quy định của Luật thuế TNDN và các luật sửa đổi bổ sung thì hoạt động đầu tư mở rộng, đầu tư trong KCN từ 2009-2013 không được ưu đãi thuế, nhưng trong giai đoạn 2004- 2008 và từ 1/1/2014 lại được ưu đãi thuế. Nghị định mới lần này đã sửa đổi, điều chỉnh một số nội dung trong phạm vi thẩm quyền của Chính phủ để  khắc phục phần nào bất cập này.

     Ví dụ, theo quy định hiện hành, KCN nằm ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi sẽ không được ưu đãi thuế, bao gồm cả những địa bàn vừa mới được nâng cấp thành đô thị loại 1… Khi doanh nghiệp đầu tư vào các KCN tại đây thì những nơi này còn rất hoang sơ, để rồi khi những nơi này trở thành quận, thành phố thì doanh nghiệp lại không được ưu đãi vì nằm ở địa bàn có điều kiện thuận lợi. Do đó, Nghị định quy định, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi không bao gồm các quận, các đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh mới được thành lập từ huyện kể từ ngày 1/1/2009, tức là doanh nghiệp sẽ được ưu đãi thuế nếu ở trên địa bàn này.

     Từ kiến nghị của doanh nghiệp, Nghị định cũng quy định rõ: Dự án đầu tư của doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế giai đoạn 2009-2013 có đầu tư bổ sung máy móc, thiết bị thường xuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh thì phần thu nhập tăng thêm do việc đầu tư bổ sung máy móc, thiết bị thường xuyên này cũng được hưởng ưu đãi thuế… Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp được hưởng mức thuế suất ưu đãi theo quy mô vốn…, nhưng doanh nghiệp mua thêm máy móc, thiết bị, tài sản cố định thì phần tăng thêm đó lại không được ưu đãi, trong khi lẽ phải khuyến khích, bà Cúc phân tích.

      Đặc biệt, các quy định về thuế TNDN trong Nghị định có tính chất hồi tố, tức Nghị định có hiệu lực từ 15/11/2014 nhưng các ưu đãi mới có hiệu lực về trước, áp dụng cho năm tính thuế 2014.

     Tổng thể lại, bà Cúc cho rằng Nghị định đã hiện thực hóa một quan điểm rất mới, đó là ban hành chính sách phải hướng tới đối tượng thực hiện, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong giảm thiểu thủ tục hành chính.

    Với Nghị định mới, Nhà nước sẽ chịu phần thiệt, trước mắt ngân sách có thể giảm một phần nhưng về lâu dài, khi gánh nặng của doanh nghiệp bớt đi, doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ thì ngân sách sẽ thu được nhiều hơn. “Đó chính là khoan thư sức doanh nghiệp để nuôi dưỡng nguồn thu”, bà Cúc chốt lại./.

Theo 
Chinhphu.vn


Read more...

        Bộ Tài chính vừa ban hành công văn số 13693/BTC-CST về việc lấy ý kiến vào dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 219/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT).

luat-thue-gia-tri-gia-tang-go-vuong
Luật thuế giá trị gia tăng gỡ vướng

         Bộ Tài chính cho biết, để kịp thời ngăn chặn gian lận trong hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng xuất khẩu qua cửa khẩu phụ, lối mở và tháo gỡ một số vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT, và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT, Bộ Tài chính đã dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 219/2013/TT-BTC.

           Nhiều trường hợp sẽ không áp thuế suất 0%

       Theo đó, dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 9 của Thông tư 219: Các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% gồm: Tái bảo hiểm ra nước ngoài; chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; chuyển nhượng vốn, cấp tín dụng, đầu tư chứng khoán ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh; dịch vụ bưu chính, viễn thông chiều đi ra nước ngoài (bao gồm cả dịch vụ bưu chính viễn thông cung cấp cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; cung cấp thẻ cào điện thoại di động đã có mã số, mệnh giá đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào khu phi thuế quan); sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho cá nhân không đăng ký kinh doanh trong khu phi thuế quan, trừ các trường hợp khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ; thuốc lá, rượu, bia xuất khẩu có nguồn gốc nhập khẩu.

        Bên cạnh đó, các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% còn có: Xăng, dầu bán cho xe ô tô của cơ sở kinh doanh trong khu phi thuế quan mua tại nội địa; Xe ô tô bán cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; Các dịch vụ do cơ sở kinh doanh cung cấp cho tổ chức, cá nhân ở trong khu phi thuế quan bao gồm: cho thuê nhà, hội trường, văn phòng (trừ cho thuê văn phòng làm trụ sở), khách sạn, kho bãi; dịch vụ vận chuyển đưa đón người lao động; dịch vụ ăn uống (trừ dịch vụ cung cấp suất ăn công nghiệp, dịch vụ ăn uống trong khu phi thuế quan).

       Ngoài ra, các dịch vụ sau cung ứng tại Việt Nam cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài không được áp dụng thuế suất 0% gồm: Thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật, văn hóa, giải trí, hội nghị, khách sạn, đào tạo, quảng cáo, du lịch lữ hành; Dịch vụ thanh toán qua mạng; Dịch vụ cung cấp gắn với việc bán, phân phối, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa tại Việt Nam.

 Cá nhân mang tiền qua biên giới phải khai báo

       Dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung tiết b.7 khoản 3 Điều 16 của Thông tư 219. Theo đó, trường hợp phía nước ngoài (trừ trường hợp phía nước ngoài là cá nhân) thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai của phía nước ngoài mở tại các tổ chức tín dụng tại Việt Nam thì việc thanh toán này phải được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng- nếu có). Chứng từ thanh toán là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người mua phía nước ngoài đã ký hợp đồng.

       Trong trường hợp xuất khẩu cho người mua phía nước ngoài là doanh nghiệp tư nhân và việc thanh toán thông qua tài khoản vãng lai của chủ doanh nghiệp tư nhân mở tại tổ chức tín dụng ở Việt Nam và được quy định trong hợp đồng xuất khẩu (phụ lục hợp đồng hoặc văn bản điều chỉnh hợp đồng-nếu có) thì được xác định là thanh toán qua ngân hàng.

       Dự thảo Thông tư nêu rõ, cơ quan thuế khi kiểm tra việc khấu trừ, hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu thanh toán qua tài khoản vãng lai, cần phối hợp với tổ chức tín dụng nơi người mua phía nước ngoài mở tài khoản để đảm bảo việc thanh toán, chuyển tiền thực hiện đúng mục đích và phù hợp với quy định của pháp luật, cá nhân mang tiền qua biên giới phải khai báo với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh và cơ quan hải quan cửa khẩu theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

      Dự thảo cho biết thêm, cơ sở kinh doanh trong tháng (đối với trường hợp kê khai theo tháng), quý (đối với trường hợp kê khai theo quý) có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý. Trường hợp trong tháng, quý số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu chưa được khấu trừ chưa đủ 300 triệu đồng thì được khấu trừ vào tháng, quý tiếp theo.

     “Đối tượng được hoàn thuế trong một số trường hợp xuất khẩu như sau: Đối với trường hợp ủy thác xuất khẩu, là cơ sở có hàng hoá ủy thác xuất khẩu; đối với gia công chuyển tiếp, là cơ sở ký hợp đồng gia công xuất khẩu với phía nước ngoài; đối với hàng hoá xuất khẩu để thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài, là doanh nghiệp có hàng hoá, vật tư xuất khẩu thực hiện công trình xây dựng ở nước ngoài; đối với hàng hoá xuất khẩu tại chỗ là cơ sở kinh doanh có hàng hoá xuất khẩu tại chỗ”, Dự thảo nêu.

Theo

Thoibaotaichinhvietnam.vn
Read more...